Văn hóa lịch sử

Nghiên cứu về trang phục cổ truyền của người Chơ ro tại Đồng Nai

Người Chơ ro hiện nay không sử dụng trang phục truyền thống mà họ mặc như người Kinh. Trang phục cổ truyền chỉ còn lưu giữ lại trong trí nhớ và một vài hiện vật trong phần trưng bày tại nhà cộng đồng của người Chơ ro tại xã Túc Trưng, huyện Định Quán. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một số ghi nhận qua tìm hiểu tại xã Túc Trưng, huyện Định Quán và xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, nhằm góp thêm tư liệu nghiên cứu về trang phục cổ truyền của người Chơ ro.

Lâm Nhân

Trường Đại học Văn hóa TP. HCM

 Dân tộc Chơ ro ở Việt Nam hiện nay có hơn 22.267 người (Theo “Số liệu thống kê qua tổng cục điều tra dân số và nhà ở năm 1999), sống tập trungđông nhất ở tỉnh Đồng Nai, một số cư trú ở tỉnh Bình Phước và tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

“Tên tự gọi của dân tộc là Chrau - Jro, trong đó Chrau có nghĩa là Người hay Nhóm người, Tập đoàn người, còn Jro là một danh từ riêng chỉ cộng đồng của họ”[1]. Họ còn được gọi bằng các danh từ có âm gần như vậy: Chơ ro, Châu ro, Chro, Chrau, Jơ ro, Dơ ro... hay bằng một danh từ phiếm chỉ: người Thượng. Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, đồng bào còn bị gọi là người Mọi. Trong các tài liệu, sách báo từ sau năm 1975, tộc danh Chơ ro được sử dụng chính thức.

Tại Đồng Nai, địa bàn sinh sống của người Chơ ro chủ yếu ở 5 huyện, thị: Long Khánh (xã Xuân Vinh, xã Xuân Bình), Xuân Lộc (xã Xuân Trường, xã Xuân Phú, xã Xuân Thọ), Định Quán (xã Túc Trưng), Vĩnh Cửu (xã Phú Lý), Long Thành (xã Phước Thái). Theo số liệu điều tra dân số của tỉnh năm 2003, người Chơ ro ở Đồng Nai là 12.267 người, xếp thứ 3 sau người Kinh và người Hoa.

Người Chơ ro hiện nay không sử dụng trang phục truyền thống mà họ mặc như người Kinh. Trang phục cổ truyền chỉ còn lưu giữ lại trong trí nhớ và một vài hiện vật trong phần trưng bày tại nhà cộng đồng của người Chơ ro tại xã Túc Trưng, huyện Định Quán.  Chủ đề trang phục cổ truyền của người Chơ ro ở Việt Nam nói chung và người Chơ ro ở Đồng Nai nói riêng đã được để cập trong nhiều bài nghiên cứu, như công trình Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam) (1984), Bức tranh văn hóa các dân tộc ở Việt Nam (1997), Người Châu Ro ở Đồng Nai của Chi hội Văn nghệ Dân gian Đồng Nai (1998)..., tuy nhiên mới ở dạng giới thiệu sơ lược. Đặc biệt gần đây là tư liệu dân tộc học “Trang phục của người Chơ ro” của tác giả Lê Ngọc Canh đã đề cập chi tiết hơn về chủ đề này[2]. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một số ghi nhận qua tìm hiểu tại xã Túc Trưng, huyện Định Quán và xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, nhằm góp thêm tư liệu nghiên cứu về trang phục cổ truyền của người Chơ ro.

 1.     Các kỹ thuật tạo trang phục:

- Y phục

Người Chơ ro xưa kia thường tự trồng bông, nhuộm sợi, dệt vải làm khố, váy, áo và chăn. Đôi khi, vài gia đình đổi y phục từ những dân tộc láng giềng như Mạ, Cơ Ho bằng lúa, gà, trâu, bò...

Hiện nay, hầu hết người Chơ ro ở Đồng Nai không còn nghề dệt vải truyền thống. Nơi duy nhất trong tỉnh có người nắm được kỹ thuật là ông Điểu Sao và con gái lớn của ông - Điểu Thị Bích (ấp Đồng Xoài, xã Túc Trưng, huyện Định Quán). Theo ông Điểu Sao, người Chơ ro xưa kia biết trồng bông, nhuộm sợi, dệt vải để may mặc. Nếu như người thực hiện công việc đan lát là nam giới thì việc dệt vải do nữ giới đảm nhiệm. Tuy nhiên, nam giới cũng góp sức vào công việc này qua các công đoạn trồng bông, làm khung dệt, các dụng cụ cán bông, quay sợi, nhuộm sợi... Công cụ dệt và kỹ thuật dệt vải của người Chơ ro giống như nhiều dân tộc Nam Tây Nguyên. Họ dệt bằng tay với bộ dụng cụ được những người nghiên cứu gọi là kiểu In-đô-nê-diêng, gồm nhiều bộ phận rời nhau và chỉ khi dệt chúng mới liên kết với nhau thành một hệ thống, có sự tham gia thường xuyên, trực tiếp của  chính người thợ dệt vào hệ thống đó.

Theo ông Điểu Sao (ấp Đồng Xoài, xã Túc Trưng), bộ khung dệt theo tiếng nói của người Chơ ro gồm có: Panâr lo vut (phần gỗ đeo vào lưng người dệt), Nsga (cây lật), Răng calon vrai (cây giữ chỉ cho đều), Panăq (dao chặt xếp chỉ), Răng yơq vrai (cây chặn chỉ), Chhơ lun (cây đảo chỉ), Răng yơq lun (cây chặn chỉ), tânh (cây đè, đưa chỉ lên xuống), Răng paubăn (cây xoay), Chhơ ndong  (cây chịu lực). Khi dệt, người dệt ngồi thẳng chân, chân đạp lên một thanh gỗ ngang để tuỳ lúc mà kéo căng hay thả chùng mặt sợi khung dệt. Một đầu của giàn sợi được buộc vào cột nhà, luồn từng sợi vải qua các răng của go (răng calon vrai), sau đó mắc vào các giá nằm ngang (Răng yơq vrai, Răng yơq lun). Một đầu được nối với  miếng gỗ buộc vòng ra phía sau lưng người dệt (Panâr lo vut). Khi dệt, người dệt dùng chân và lưng căng giàn sợi, một tay đập go, một tay luồn thoi sợi. Với kiểu khung dệt này, người dân có thể tạo ra nhiều khổ vải với nhiều kích thước khác nhau, theo ý muốn và nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên, khổ vải rộng nhất thường chỉ được 1m, hoặc hơn 1m. Nếu cần khổ vải rộng hơn, người dân phải khâu ghép các tấm vải lại với nhau.

Việc nhuộm sợi được tiến hành trước khi dệt. Sợi được chế tác từ quả cây bông và màu tự nhiên bao giờ cũng là màu trắng (canang). Các màu sắc khác: đen (ui), đỏ (paghơ), vàng (gamít).. được tạo ra theo kinh nghiệm của người Chơ ro. Cũng như nhiều dân tộc khác, họ có kỹ thuật tạo màu nhuộm từ các sản phẩm trong thiên nhiên.

Để tạo màu chàm, đồng bào lấy cành và lá cây trum ngâm (hoặc đun) trong nước cùng sợi trắng tự nhiên. Để tạo màu tím và màu đen, người Chơ ro nhúng sợi vải vào nước nóng đun từ cây mockđoi và cây sơ vut nhoi, sau đó cho sợi vải vào hỗn hợp sáp ong và nước cháo để nguội sẽ được sợi màu tím. Tiếp theo, để tạo màu đen, người ta cho sợi tím mới nhuộm như trên ngâm bùn 3 đến 5 ngày. Màu xanh được tạo ra từ vỏ cây sơ tơ nâng ngâm trong nước rồi đun sôi. Màu vàng được lấy từ củ vàng nghệ giã nhuyễn, lọc lấy nước nhuộm. Màu đỏ với nhiều cấp độ đậm nhạt khác nhau được nhuộm bằng các loại cây rừng đập dập đun sôi: cây luk, cây chà ràng, cây râng...

Người Chơ ro xưa kia không thêu hoa văn và cũng không tạo trang trí bằng cách đáp vải như một số dân tộc thiểu số phía Bắc, mà họ dệt hoa văn. Việc thao tác tạo hoa văn diễn ra ngay từ bước khởi đầu và kéo dài với quá trình dệt. Người dệt sắp xếp trật tự các sợi dài của tấm vải tương lai một cách có chủ ý, nhằm phân bố màu sắc đúng vào vị trí cần thiết: màu đen, màu đỏ, màu trắng hay các màu khác. Sau đó, bằng kỹ thuật gài sợi khéo léo: đan các sợi ngang theo màu sắc đã định để kết hợp với sợi dọc đã giăng cố định, thít sợi ngang cho chặt vào sợi dọc và tấm vải cùng các hoa văn sẽ lần lượt hiện lên. Tuỳ theo từng sản phẩm (váy, khố, áo, chăn...) mà người dệt bố trí màu cho thích hợp.

Các hoa văn (panôq) chính trên vải của người Chơ ro thường dệt là: tong yih (đầu chà gạc), tong têch (đường viền), kinhiah ti (móng tay), mat ncau (mắt cú mèo), khiya (khung quay sợi), ncogatơp (cổ con chim cu), dicanh (hoa văn giống của người Mạ)...

- Trang sức

Đồ trang sức bằng kim loại được người Chơ ro đổi từ người Chăm bằng thóc, lúa, gà, trâu bò. Các loại dây đeo, vòng tay, hoa tai thường được tự làm từ hạt mù u hay từ nhựa của một vài loại cây rừng. Người ta khoét lỗ trên thân cây để lấy nhựa. Nhựa chảy ra được hứng vào thân cành trúc nhỏ, ở giữa có gài dây rừng thật nhỏ để khi nhựa khô tạo thành lỗ sâu dây đeo.

2. Sử dụng và bảo quản trang phục

Theo truyền thống, nam giới Chơ ro thường đóng khố (tronh), ở trần; nữ giới quấn váy (sơ vút), ở trần. Khi thời tiết lạnh, cả nam và nữ có thêm áo (ao) chui đầu, không tay và quấn thêm chăn (su) bên ngoài. Nữ giới thường đeo trang sức, là những chiếc vòng cổ (kieng), vòng tay (nglao) bằng hạt cườm nhiều màu sắc và những chiếc vòng tay bằng đồng, bạc, nhôm... Theo người dân ở xã Túc Trưng (huyện Định Quán) và xã Xuân Trường (huyện Xuân Lộc), người Chơ ro xưa kia còn quấn khăn (nsen) trên đầu. Song về hình dáng, kích thước và cách quấn khăn thì người dân không còn nhớ. Cái khăn ngoài công dụng giữ ấm còn có tác dụng nhặt hạt thóc rơi, họ rất kiêng dùng chổi quét gom thóc vì sợ làm thần lúa giận.

Người Chơ ro dựa vào màu sắc và kích thước tấm vải để phân biệt váy, chăn. Hơn thế, còn để phân biệt chăn cho nam và cho nữ. Váy thường có nền đen, còn chăn nền trắng ngà. Chăn cho nam giới nhiều hoa văn, hoa văn thường dệt kín mặt chăn. Chăn cho nữ giới thường chỉ dệt hoa văn viền mép. Ngoài ra, một mép của chăn khâu đính dải hoa văn khác nhằm mục đích phân biệt đầu và chân của tấm chăn. Váy và khố của người Chơ ro thường dệt trang trí hoa văn chà gạc (tong yih), đường viền (tong tech), hoa văn móng tay (kinhiah)... Mép váy khâu viền dải hoa văn khung quay sợi (khiya)... Chăn thường trang trí hoa văn cổ chim cu (ncogatơp), mắt cú mèo (mat cau) và một vài hoa văn bắt chước từ người Mạ (dicanh).

Xưa kia, người Chơ ro thường đi chân đất. Nhiều gia đình khá giả thì lấy da con trâu, con nai phơi khô cắt theo kích thước của chân làm đế dép;  dùng da đuôi con voọc xuyên qua đế dép làm quai.

Người Chơ ro trước đây không trang điểm. Theo quan niệm của họ, nếu trang điểm sẽ bị thần rừng quở trách, bắt đem đi. Để tạo hương thơm cho cơ thể, người Chơ ro lấy cây tầm biêng trong rừng, đập dập rồi phơi khô, chà vào đầu và người khi tắm gội sẽ sạch sẽ và lưu lại hương thơm.

Trong đám cưới, cô dâu chú rể thường chỉ mặc bộ y phục mới nhất của mình, không khác so với những bộ họ vẫn mặc trong dịp cúng nhang, lễ tết. Có khác một chút là cô dâu và chú rể đeo nhiều vòng đồng và vòng cườm hơn thường ngày. Những đồ trang sức trong đám cưới được mượn của già làng, khi già làng này mất đi, già làng khác lên thay sẽ có trách nhiệm giữ và bảo quản các đồ trang sức đó. Trong ma chay, người chết không có y phục riêng, họ được táng trong bộ y phục thường ngày.

Người Chơ ro giặt đồ ở suối. Họ dùng cây tanh (se cenh) làm chất tẩy như xà phòng hiện nay. Loại cây này được lấy trong rừng. Đây là loại dây bò, khi lấy chỉ được xé dọc một bên thân dây thì dây mới tiết ra chất tẩy sạch, mặt khác, nếu chặt hay xé cả hai bên thân dây thì cây sẽ bị chết, không mọc lại. Khi giặt, người dân đập dập đoạn thân cây tanh, chà vào quần áo. Sau đó, giũ sạch bằng nước suối và phơi trên các cành tre ngả thấp gần nhà. Trường hợp quần áo bẩn nhiều, ngả màu, người Chơ ro ở Phú Lý lấy bã rượu cần (rượu ịt), ngâm với quần áo một đêm, sau đó giũ lại nước suối, quần áo trắng sạch hơn nhiều.

Các đồ trang sức bằng kim loại để lâu ngày thường bị đen và mất độ sáng bóng. Để bảo quản, người Chơ ro thường dùng lá hốt chà lên mặt các đồ vật này để tạo lại độ sáng bóng. Các đồ trang sức thường được chôn theo chủ nhân khi họ chết. Đó cũng là lý do tại sao hiện nay đồ trang sức của người Chơ ro không còn lưu lại nhiều. Ngoài ra, trong khi di chuyển, người Chơ ro thường trang bị thêm cho mình chiếc gùi đeo sau lưng. Hình thức và kiểu dáng của chiếc gùi đó phụ thuộc vào mục đích của chuyến đi.

3. Một vài nhận xét

Hiện nay, người dân Chơ ro không mặc như truyền thống nữa mà sử dụng y phục hoàn toàn giống như người Việt ở địa phương. Tuy nhiên, sở thích đeo đồ trang sức bằng hạt cườm và các loại vòng bạc, vòng đồng, vòng nhôm vẫn được bà con lưu giữ. Trẻ em Chơ ro thường được ông bà, cha mẹ cho đeo lục lạc bằng đồng ở chân, với ý nghĩa bảo vệ đứa trẻ khỏi tà ma và cho trẻ đeo vuốt cọp, răng cọp để xua đuổi các loại thú dữ. 

Y phục và đồ trang sức của người Chơ ro cũng có nhiều thay đổi do xu hướng của công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, quá trình giao lưu với người Việt. Ngoài việc mặc y phục như người Việt, nhiều phụ nữ Chơ ro đã mặc váy đầm cho bản thân và cho con gái của họ, thanh niên ưa thích mặc quần jean áo thun. Các vòng cổ, vòng tay, nhẫn bằng hạt cườm, hạt nhựa, bằng đồng... truyền thống đã chuyển sang bằng chất liệu vàng với nhiều kiểu cách. Trong các đám cưới, chú rể Chơ ro ngày nay đi giày da, mặc complete; cô dâu đi giày cao gót, mặc váy đầm, thậm chí y phục còn được thay đổi nhiều lần trong ngày cưới.

Nghề dệt vải của người Chơ ro ở Đồng Nai bị mai một dần dần và hiện nay mất hẳn. Theo nghiên cứu của chúng tôi, việc thất truyền nghề dệt vải là do chiến tranh xảy ra nhiều trên vùng đất người Chơ ro sinh sống, người dân liên tục di chuyển chỗ ở, khung dệt vải và các chất liệu khó trồng và khó kiếm. Bên cạnh đó, nghề dệt vải của người Mạ, Chăm, Việt và các dân tộc sống xen cư phát triển mạnh hơn, người Chơ ro dễ dàng trao đổi các sản vật để lấy vải vóc và quần áo. Có thể đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc thất truyền của nghề dệt vải của người Chơ ro.

Theo ý kiến của một số già làng và người dân Chơ ro tại huyện Định Quán và huyện Vĩnh Cửu, họ muốn tìm hiểu lại nghề dệt cổ truyền của chính dân tộc mình, vừa để duy trì nghề thủ công truyền thống đã bị mai một, vừa để hướng nghiệp cho con cháu người Chơ ro trong việc quảng bá văn hóa và phát triển du lịch.

  


Các tin khác trong chuyên mục

>> Huyền bí những đêm đuổi hổ ở Mã Đà (21/01/2014)

>> Tìm hiểu một số tín ngưỡng liên quan đến canh tác nương rẫy cổ truyền của người Chơ ro (ở ấp Lý Lịch 1, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) (30/10/2013)


Trở lại
 
Xem tin theo ngày
Từ Đến
Tìm kiếm theo tiêu đề